Tại sao đổi tên thành phố Sài Gòn (SG) thành Hồ Chí Minh (HCM)

Sài Gòn – Hồ CHí Minh , Sài Gòn Thành Phố của tình yêu, bởi sai đắm nên nhìn nhau tha thiết, nhìn vời vợi hay nhìn gần điều đẹp, đẹp hơn nhiều  khi ta được nhìn lâu hơn. Đó là cái nhìn của nhạc sỷ Trương Châu Mỷ về Sài Gòn qua bài hát : Sài Gòn nhìn lâu đẹp mãi

Còn bây giờ chúng tôi xin kể với bạn về lịch sử hình thành và phát triển thành phố sài Gòn và  nó được đổi tên thành:thành phố Hồ Chí Minh từ khi nào?

Sài Gòn nói riêng và Nam Bộ nói chung là 1 vùng đất trẻ : mới được khai phá khoảng 300 năm  nay mà thôi (1998  kỷ niệm 300 năm khai phá đất Sài Gòn).Vậy tại sao có tên gọi Sài Gòn?: vì vùng đất này hơn 300 năm trước là rừng hoang , không có người  ở.Vùng này xưa có nhiều cây trái Xoài)đọc chạy âm thành sài) và cây bông Gòn( giờ ta vẫn nhìn thấy các cây Gòn mọc rải rác khắp nơi trong thành phố),  có rất nhiều thú hoang, Sông SG giờ nơi mà chúng ta ngày nay gọi là Bến Nghé( quận 1) là nơi các con nghé( con của con trâu hay bò) ra sông SG uống nước thì bị làm mồi cho cá sấu ở dưới sông SG chờ sẳn săn mồi ngon.Các  con nghé bị  cá sấu tấn công đột xuất, cá sấu đớp cổ, lôi đầu con nghé lôi xuống nước để ăn thịt.Con nghé kêu toát lên  tạo thành một âm thanh lớn vang rộng cả 1 mé rừng: Nghé ọ, nghé ọ ….tựa như kêu” mẹ ơi”…. thật to để được mẹ ở gần đâu đó nghe và mau mau tới cứu lấy mạng sống đứa con yêu  đang bị cá sấu “ nuốt chửng”.Nên bến sông này gọi là bến nghé,- bến nước  hay có các con nghé ra uống nước sông và làm mồi cho cá sấu .

Sau khi đánh tan Chămpa (hay còn gọi là Chiêm Thành,Lâm Ấp thánh lập từ năm 192 đến năm 1693 tan rả) lãnh thổ nước ta dưới triều Nguyễn kéo dài về phương nam đến Phan Thiết_ Chămpa :

Nước Đại Việt ta đến đầu thời Lý biên giới phía nam là tỉnh Hà Tĩnh (phía bắc Đèo Ngang). Phía nam Đèo Ngang là lãnh thổ của vương quốc Chiêm Thành (Champa).

– Người được coi là đầu tiên có công mở mang bờ cõi về phía nam là vua Lý Thánh Tông. Năm 1069, vua Chiêm Thành sau khi bị vua Lý Thánh Tông bắt đã phải cắt đất để đổi mạng, nước ta mở rộng thêm vùng Quảng Bình, Quảng Trị.

– Người thứ hai được ngợi ca là Huyền Trân công chúa thời nhà Trần. Năm 1306, nàng đã chấp nhận hy sinh tình yêu dấu của riêng mình ( với Trần Khắc Chung 1 viên tướng của cha nàng) để thực hiện nhiệm vụ chính trị mà vua cha (Trần Nhân Tông-Người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm ở núi Yên Tử 1299 đã gả  nàng cho vua Chiêm Thành là Chế Mân  dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm sính lể cầu hôn, vua Trần nhân Tông khi đó mới đồng ý gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân. Công chúa khi về Chiêm Thành, được phong làm Vương hậu thứ 2 với phong hiệu là Paramecvari .khi thuyền đưa dâu từ Hà Nội về  thành Đồ Bàn thủ đô Chămpa ở Phan Rang ngang qua biển Vĩnh Hảo( có nước khoáng Vĩnh Hảo)Huyền Trân thấy biển đẹp kêu thuyền dừng lại ngắm cảnh và đât tên là Vĩnh Hảo: ước mong Chiêm-Việt từ đây giao hảo vĩnh viễn.

Nhưng một năm sau đó: vào tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân chết. Thế tử Chiêm Thành là Chế Chi sai sứ sang Đại Việt báo tang. Trần Anh Tông(anh cùa Huyền Trân) khi đó nghe rằng theo phong tục nước Chiêm: Vua chết thì  hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Trần Anh Tông liền cử Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu công chúa. Trần Khắc Chung thành công, cứu được công chúa và đưa xuống thuyền, đưa công chúa về Đại Việt bằng đường biển. Cuộc hải hành này kéo dài tới một năm và theo Đại Việt sử ký toàn thư thì Trần Khắc Chung đã tư thông với công chúa(tình củ không rủ cũng đến)

Tháng 8 năm Mậu Thân (1308), công chúa về đến Thăng Long. Theo di mệnh của Thái Thượng hoàng, công chúa xuất gia ở núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh) vào năm 1309. Công chúa thọ Bồ tát giới và được ban pháp danh Hương Tràng

Cuối năm Tân Hợi (1311), Hương Tràng cùng một thị nữ trước đây, bấy giờ đã quy y đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản (nay thuộc Nam Định), lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Sau đó, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộm Sơn hay còn gọi là Quảng Nghiêm Tự.

Bà mất ngày mồng 9 tháng giêng năm Canh Thìn (1340)]. Dân chúng quanh vùng thương tiếc và tôn bà là Thần Mẫu và lập đền thờ cạnh chùa Nộm Sơn. Ngày công chúa mất sau này hàng năm trở thành ngày lễ hội đền Huyền Trân trên núi Ngũ Phong ở Huế.

Các triều đại sau đều sắc phong công chúa Huyền Trân là thần hộ quốc. Nhà Nguyễn ban chiếu ghi nhận công lao của công chúa Huyền Trân “trong việc giữ nước giúp dân, có nhiều linh ứng”, nâng bậc tăng là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”

Thuận Hóa (nam Quảng Trị và Thừa Thiên Huế).

Nhờ sự hy sinh tình riêng của Huyền Trân công chúa và diệu kế anh minh của vua cha Trần Nhân Tông(đánh quân Nguyên-Mông 1285) mà lãnh thổ nước ta kéo dài về phương nam đến Huế  không 1 giọt máu rơi

– Nhà Hồ trong mấy năm tồn tại ngắn ngủi cũng đã chiếm thêm đất  Chămpa đến hết tỉnh Đà Nẵng và Quảng Nam, tuy nhiên sau khi nhà Hồ mất nước, vương quốc Chiêm Thành đã chiếm lại vùng đất phía nam đèo Hải Vân này.

– Đến thời thịnh trị Lê Thánh Tông, năm 1470 vua Lê Thánh Tông đánh chiếm Chiêm Thành, nước Đại Việt ta lại được mở rộng thêm toàn bộ vùng đất từ phía nam đèo Hải Vân tới hết tỉnh Bình Định.

– Toàn bộ vùng đất còn lại bắt đầu được mở mang bởi các chúa  Nguyễn.

Năm 1611, Nguyễn Hoàng chiếm đến tỉnh Phú Yên.

Năm 1653, Nguyễn Phúc Tần chiếm đến tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1693, Nguyễn Phúc Chu chiếm được vùng Bình Thuận và biến thành vùng đất tự trị thuộc Đại Việt.

Từ đó vương quốc Chiêm Thành xóa tên trên bản đồ thế giới.

Vậy là suốt từ thời vua Lý Thánh Tông đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu (từ năm 1069 đến 1693) hơn 600 năm, các triều đại nhà của Đại Việt đã có công sáp nhập Chiêm Thành – một vùng đất rộng lớn vào Đại Việt. và người  dân Chiêm Thành (Champa)  đã  trở thành 1 dân tộc thiểu số của nước ta.

Vậy tại sao cha ông ta lại đánh tan vương quốc Chămpa?

Do người dân bộ tộc Trầu Cau: người dân Chămpa  xưa có tục ăn trầu và nhuộm răng. Nghe lời xúi giục của Trung Quốc chi viện khí tài và vật lực  năm 192 li khai thành 1 quốc gia riêng ở phía nam nước ta lấy tên là Chămpa(còn gọi là Lâm Ấp, Chàm), liên minh  với Trung Quốc( chiếm nước ta bằng nam nhân kế:Trọng Thủy cưới Mỵ Châu để trộm bí quyết  quân sự: Nỏ thần từ thời An Dương Vương-đến 938 Ngô Quyền đánh quân Nam Hán ở Bạch Đằng Giang thắng trận kết thúc gần 1000 năm Bắc thuộc)-  để tấn Công nước ta. Nên cha ông cha quyết định bẻ cành nhỏ( Chămpa) trước khi xới gốc cây to( Trung Quốc) và nhìn về phương nam trù phú với đồng bằng (sông  Cửu Long) bát ngát phù sa, tôm cá thì khát vọng kéo dài lãnh thổ cương vực như cha Rồng( Lạc Long quân) mẹ Tiên(Âu Cơ) chia nhau dắt con lên núi xuống biển tìm kế sinh nhai từ ngàn xưa.

1698 chúa Nguyễn Phúc Chu tiến đến vùng đất Sài Gòn, nên đuộc lấy làm niên đại sài Gòn được khai phá.Đến thời  vua Gia Long (làm vua từ 1802 đến 1820 thì mất con là vua Minh Mạng lên ngôi) lập Phủ Gia Định. giao cho Tả quân cho Lê Văn Duyệt (sinh năm Giáp Thân :1764 tại Cù Lao Hổ, cạnh vàm Trà Lọt, nay thuộc làng Hòa Khánh, tỉnh Tiền Giang. Nội tổ là Lê Văn Hiếu từ Quảng Ngãi đi vào Nam sinh sống. Sau khi ông Hiếu qua đời , cha LVD là Lê Văn Toại và thân mẫu là Phúc Thị Hào… rời Trà Lọt đến ở tại vùng Rạch Gầm, thuộc làng Long Hưng tỉnh Tiền Giang ngày nay, Tả quân  lâm trọng bệnh và mất ngày 30 tháng 7 năm Mậu Thìn (nhằm ngày 15 tháng 8 năm 1832) hưởng thọ 69 tuổi.LVD làm tổng trấn thành Gia Định 2 lần; lần 1: 1813-1816, lần 2: 1820 đến lúc mất 1832, ông bắt đầu làm việc cho chúa Nguyễn 1789 đến 1832).Lăng ông ở chợ bà Chiểu là thờ ông Lê Văn Duyệt

1714 Mạc Cửu chúa đất vùng Hà Tiên xin xác nhập vào nước ta thì đất nước ta kéo dài đến Hà Tiên, Cà Mau

1945 kháng chiến chống Pháp( vào nước ta 1858 ở Đà Nẵng với hòa ước của vua  Tự Đức – vua thứ 4 của triều Nguyễn, đến 1885 pháp chiếm hết nước ta-vua chỉ là hình thức không có thực quyền)thành công Bảo Đại vị vua(thứ 13) cuối cùng của Triều đại các vua Nguyễn( 1802 đến 1945) công bố thoái vị  28.5 1945 chấm dứt chế độ phong kiến vua chúa ở nước ta.

Tháng 5.1909 Bác Hồ ( Nguyễn tất Thành- có chí  sẻ thành công) từ Huế vào sài Gòn (có dừng chân dạy học ở  trường Dục Thanh ở phan Thiết 9-1910 đến 2-1911 ) ra đi tìm đường làm cách mạng giải phóng nước ta khỏi sự cai trị của Pháp 5.6. 1911 với tên Văn Ba làm chân phụ bếp trên tàu Amiral La Touche De Tréville  .Sau khi bôn ba ở các  nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp.Nngày 28/1/1941 (Tức ngày mùng 2 Tết Tân Tỵ), Bác Hồ trở về nước qua mốc 108 (cũ), tại xóm Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngay từ khi trở về Cao Bằng trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam,  đến 2.9 1945 Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập ở quãng trường Ba Đình-Hà Nội( nơi có những con kênh trong nội thành)

Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genever, Quốc gia Việt Nam cùng Pháp tập kết về vùng phía Nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam. Mỹ tác động vào liên hiệp quốc kiểm soát miền nam Việt Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào nam, thủ đô là Sài Gòn) và lập nên  và viện trợ cho chính quyền việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm đứng đầu đến 30.4 .1975 thì sụp đổ , miền nam giải phóng  khỏi Mỷ .

5.7 1975 tại Dinh Độc Lập- nhà Trắng của Mỷ ở Sài Gòn hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước Đảng và chính phủ quyết định đổi tên sài Gòn Thành thành phố Hồ Chí Minh- để tưởng nhớ từ nơi đây bác Hồ đả ra đi tìm đường cứu nước .Từ đó Dinh độc lập cũng đươc gọi là Hội Trường Thống Nhất

Tại sao sau chiến thắng  Pháp (lần 2 xâm lược  nước ta) ở Điện Biên Phủ 1954 Mỷ lại tác động vào liên hiệp quốc chia ra 2 miền nam bắc và Mỷ chỉ kiểm soát miền nam Việt nam.Vì Mỷ không thích làm hang xóm với Trung quốc và biển ở Miền Nam có trử lượng dầu rất lớn. Chổ nào có dầu mỏ và bán  được vủ khí là chổ đó có Mỷ nhúng tay vào.

Theo Phú Phạm

(Sưu tầm)